NÔ-Ê VÀ CƠN NƯỚC LỤT
Từ xưa đến nay khi người ta đọc đến câu chuyện nước lụt xãy ra trong thời kỳ Nô-ê thì thường có 2 quan điểm trái ngược nhau như thế nầy: Quan điểm thứ nhất là nghĩ rằng cơn nước lụt đã xãy ra trên khắp cả thế giới. Những người thuộc về quan điểm nầy nói rằng vì cớ Kinh thánh đã cho biết là nước lụt phủ khắp mặt đất thì điều đó có nghĩa là nước đã bao phủ khắp cả bề mặt Địa cầu và mọi sinh vật đều chết hết chỉ trừ gia đình Nô-ê có 8 người và các loài thú đã vào tàu với ông. Những người thuộc về quan điểm nầy cho rằng hễ Kinh thánh đã viết thế nào thì họ tin theo thế ấy, bất kể sự phản đối của giới khoa học gia và các bằng những mà khảo cổ học đã đưa ra để cho biết là một cơn nước lụt lớn như vậy chưa từng xãy ra trên trái đất.
Khi chúng ta đọc về cầu chuyện cơn nước lụt trong thời kỳ củaNô-ê thì thấy rằng quả thật Kinh thánh có đề cập đến việc nước lụt bao phủ khắp mặt đất, như đã có chép trong các câu Kinh thánh sau đây và một số câu khác nữa mà tôi chỉ xin lượt kê lại mà thôi.
Sáng thế ký 6: 17 – Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết.
Sáng thế ký 7: 17 – Nước lụt phủ mặt đất bốn mươi ngày; nước dưng thêm nâng hổng tàu lên khỏi mặt đất.
Sáng thế ký 7: 23 – Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi.
Khi Kinh thánh cho biết là mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt thì những người thuộc về quan điểm thứ nhất đều tin rằng điều đó xãy ra là khắp cả quả Địa cầu. Nhưng tin như vậy là tin theo bề mặt của chữ và theo quan điểm ngày hôm nay, nhất là quan điểm của thế kỷ thứ 20 và 21. Tôi sẽ giải thích thêm trong phần sau để quý Hội thánh có thể thấy được điều đó.
Quan điểm thứ hai là nghĩ rằng cơn nước lụt mà Kinh thánh đã tường thuật lại chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn thuộc linh có tánh cách dạy dỗ mà thôi, chớ không phải là một sự kiện có thật đã từng xãy ra. Những người thuộc về quan điểm nầy bao gồm người chưa tin và cả một số Cơ-đốc-nhân nữa, bởi vì họ thấy rằng một cơn đại hồng thủy lớn lao như vậy chỉ được đề cập đến trong Kinh thánh và trong các câu chuyện cổ tích thuộc về huyền thoại, giống như chuyện Sơn tinh Thủy tinh của Việt Nam, chớ không hề có một bằng chứng khoa học nào xác định cho điều đó. Mặc dầu khoa khảo cổ học đã đào bới và tìm thấy di tích của một cơn nước lụt lớn xãy ra trong khu vực…, nhưng những dấu tích đó rất là giới hạn chớ không trãi rộng ra khắp cả quả Địa cầu.
Bởi sự trái ngược của hai quan điểm kể trên mà từ trước đến nay có rất nhiều Cơ-đốc-nhân bị hoang mang về câu chuyện cơn nước lụt nhưng không tìm được câu trả lời thỏa đáng. Vì vậy mà có một số anh chị em cứ cho qua vấn đề nầy mà không muốn nhắc đến nữa, xem như chuyện đã rồi không còn thắc mắc làm cho cho mệt. Nhưng theo như Kinh thánh cho biết thì Cơ-đốc-nhân khi theo Chúa phải biết tỏ tường về các sự dạy dỗ trong Kinh thánh, tức là phải hiểu lẽ thật và tin vào sự đúng đắn trong lời của Đức Chúa Trời, chớ không thể nào theo Chúa trong sự hoài nghi, tức là có thắn mắc mà chưa được giải đáp. Theo Chúa trong sự hoài nghi thì không thể nào kết quả được, như lời của Chúa đã cảnh cáo trong Gia-cơ 1: 6-8.
GIA-CƠ 1: 6 – Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa. Ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.
Mặc dầu câu gốc nầy có nội dung chủ yếu là nói về sự cầu nguyện, nhưng nhờ lời của Chúa mà chúng ta có thể hiểu được rằng người có sự nghi ngờ, bất kể là trong phương diện thuộc thể hay thuộc linh, đều sẽ không có sự chuyên tâm mà theo Chúa, nhất là đối với những người hầu việc Ngài trong mọi khía cạnh và mọi lãnh vực khác nhau. Bởi lẽ đó mà việc hiểu cho tường tận chính xác về các chân lý và lẽ thật trong Kinh thánh, bao gồm luôn cả sự thật về cơn nước lục, là điều cần thiết và quan trọng cho tinh thần của Cơ-đốc-nhân.
Vì vậy mà ngày hôm nay và nhiều lần sau nầy nữa tôi sẽ xin cậy ơn của Đức Chúa Trời để cùng với quý Hội thánh suy gẫm về cơn nước lụt trong thời kỳ của Nô-ê.
Nhưng trước hết thì tôi xin được nhắc lại niềm tin của chúng ta vào quyển Kinh thánh. Như tất cả chúng ta đều đã biết thì Kinh thánh là nguồn duy nhất trong cả thế gian nầy có thể giúp cho chúng ta hiểu biết về Chúa và đường lối của Ngài dành cho cả nhân loại. Ngoài quyển Kinh thánh ra thì không còn có điều nào khác để giúp cho chúng ta biết về Ngài. Bởi vậy cho nên quyển Kinh thánh là một trong những quà tặng lớn lao nhất của Chúa ban cho con người, mà cũng là kho tàng mầu nhiệm ẩn chứa những sự cao sâu lạ lùng về Đức Chúa Trời và quyền năng vĩ đại cuả Ngài. Chính vì lý do mà chúng ta không những trân trọng quyển Kinh thánh để tìm tòi học hỏi mà còn phải nhận thức được rằng quyển Kinh thánh là bằng chứng lạ lùng về sự tể trị tuyệt đối của Chúa.
Trong thế gian nầy có nhiều ngôn ngữ và quyển Kinh thánh đã được dịch ra bằng hầu hết các thứ tiếng để nhân loại có thể nhờ đó mà đến với Chúa và tin nhận Ngài. Vì vậy mà sự chuyển ngữ của Kinh thánh là một công tác rất quan trọng và nghiêm túc, bởi vì nó có liên quan đến sự cống chết của linh hồn người ta, là linh hồn mà Đấng Christ đã chết thế cho. Bởi lẽ đó mà chúng ta phải tin rằng việc dịc thuật Kinh thánh đã được Đức Chúa Trời quan tâm hơn hết để lời của Ngài có thể đến với từng dân tộc, từng ngôn ngữ.
Quyển Kinh thánh của chúng ta đang sử dụng đây được gọi là bản Kinh thánh truyền thống bắt đầu được xuất bản từ năm 1925, nghĩa là 14 năm sau khi Tin lành bắt đầu đến Việt Nam. Vì được dịch thuật từ đầu thế kỷ 20 cho nên nhiều từ ngữ trong bản dịch truyền thống không quen thuộc đối với các thế hệ trẻ sau nầy. Ngay cả đối với một số người có tuổi thì nhiều từ ngữ cũng không được quen thuộc lắm, chẳng hạn như chữ xoàng ba trong Ê-sai 51: 17:
Ê-SAI 51: 17 – Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy, và đứng lên! Ngươi đã uống chén thạnh nộ từ tay Đức Giê-hô-va; đã uống cạn chén xoàng ba, uống cho tới cặn.
Nhiều người không hiểu được chữ xoàng ba có ý nghĩa chính xác là như thế nào, cho nên họ đi tìm bản dịch tiếng ngoại quốc, chẳng hạn như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa để biết được ý nghĩa cho rõ ràng. Còn những người học thức có văn bằng thì có thể tìm hiểu nghĩa của chữ ấy trong bản tiếng Hê-bơ-rơ. Nhưng đối với những Cơ-đốc-nhân bình thường trong Hội thánh thì làm sao? Có người trả lời rằng đi hỏi vị mục sư chủ tỏa của Hội thánh địa phương. Phải, đó là điều nên làm, nhưng ngoài ra thì chúng ta cũng có thể dựa vào Kinh thánh để hiểu được ý nghĩa của chữ ấy, chẳng hạn như các câu Kinh thánh sau đây:
Ê-SAI 28: 7 – Song những kẻ ấy cũng choáng váng vì rượu, xiêu tó vì các thứ rượu mạnh. Thầy tế lễ và đấng tiên tri đều choáng váng vì rượu mạnh, bị rượu nuốt đi, nhân các thứ rượu mạnh mà xoàng ba; xem sự hiện thấy thì cắt nghĩa sai, xử kiện thì vấp ngã.
Ê-SAI 29: 9 – Hãy sững sờ và kinh hãi! Hãy mù mắt và quáng lòa! Họ say, nhưng không phải vì rượu; xoàng ba, nhưng không phải bởi rượu mạnh.
Nhờ hai câu Kinh thánh nầy mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của chữ xoàn ba là say rượu hoặc là đi lảo đảo hoặc là ở trong trạng thái không được tỉnh táo.
Chính vì những từ ngữ xưa cũ và khác lạ như vậy mà sau nầy có một phong trào đòi hỏi Kinh thánh tiếng Việt cần phải được dịch lại để cho Cơ-đốc-nhân có thể đọc và hiểu được dễ dàng. Tôi không hề có ý phản đối việc dịch thuật lại bản Kinh thánh tiếng Việt, nhưng có một điểm mà chúng ta phải để ý ở đây: Ấy là sau nầy có có một tình trạng thường xãy ra trong vòng Cơ-đốc-nhân là mỗi khi đọc không hiểu được lời Kinh thánh thì người ta hay có khuynh hướng đi tìm bản dịch mới để cho rõ nghĩa hơn. Lâu ngày thói quen nầy có thể dẫn đến tình trạng dịch Kinh thánh bằng sự diễn giải của người dịch, tức là cố làm sao cho người đọc hiểu được Kinh thánh, chớ không còn bằng sự chuyễn ngữ chính xác theo ý nghĩa của từ ngữ mà Kinh thánh đã được viết ra. Nếu tình trạng ấy kéo dài thêm nhiều thế hệ sau nầy nữa thì lúc đó Cơ-đốc-nhân sẽ cậy nhờ vào sự diễn giải Kinh thánh của người dịch hơn là sự soi sáng của Đức-Thánh-Linh.
Sau nầy thì tôi sẽ trình bày nhiều hơn về việc suy gẫm và tìm hiểu Kinh thánh, nhưng điều mà tôi muốn nói đến ở đây là quyền tể trị tuyệt đối của Chúa trên việc dịch thuật Kinh thánh. Vì Kinh thánh là nguồn quan trọng duy nhất để con dân Chúa có thể tìm hiểu về Ngài và đường lối cứu rỗi trong Đấng Christ, vì vậy mà chắc chắn là Đức Chúa Trời đã hết sức lưu tâm đến việc Kinh thánh được dịch ra như thế nào. Tôi đồng ý với nhiều người là bản dịch Kinh thánh truyền thống có một số lỗi chính tả, nhưng đó chỉ là lỗi ở việc in ấn hoặc là thói quen trong cách ăn nói mà thôi. Những điều đó chúng ta không nên xem là sự không chính xác của bản dịch truyền thống. Mặc dầu những lỗi ấy có trong Kinh thánh nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu được, giống như chúng ta hiểu được cách ăn nói của từng miền trong cả nước Việt Nam, chẳng hạn như đồng thời là con cá rô mà người miền Bắc phát âm khác, người dân Nam bộ phát âm khác, hoặc đồng thời là cái muỗng mà mỗi miền lại dùng những từ ngự khác nhau để chỉ về cái muỗng.
Ngoài ra thì còn những sai sót khác nữa lớn hơn mà tôi không nghĩ là chúng ta có thì giờ để kể hết ra tại đây, nhưng tôi chủ ý muốh nói rằng nội dung của bản dịch Kinh thánh truyền thống thì vẫn chính xác với đường lối của Chúa dành cho cả nhân loại nếu so với các bản dịch Kinh thánh thuộc ngôn ngữ khác. Vì vậy mà chúng ta nên cậy nhờ sự soi sáng của Đức Chúa Trời để hiểu biết về nội dung trong lời của Chúa hơn là cứ chú tâm đến việc phải dịch thế nào để cho người đọc dễ hiểu. Làm như vậy thì hóa ra là đọc Kinh và hiểu Kinh thánh theo sự diễn giải của người dịch chớ không phải bằng sự soi sáng của Đức-Thánh-Linh.
Một lần khác tôi sẽ trình bày thêm về vấn đề nầy nhưng bây giờ thì chúng ta trở lại với nội dung chính sáng hôm nay, đó là cơn nước lụt trong thời kỳ của Nô-ên. Nếu quý Hội thánh có Kinh thánh trong tay thì xin mở ra để theo dõi các câu Kinh thánh mà chúng ta cần phải suy gẫm cho chủ đề nầy.
Xin chúng ta cùng xem trong Sáng thế ký đoạn thứ 6, từ câu thứ 5 cho đến câu thứ 9. Tôi xin được đọc các câu Kinh thánh nầy và xin kính mời quý Hội thánh đồng theo dõi:
SÁNG THẾ KÝ 6: 5-9 – Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn, thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất và buồn rầu trong lòng. Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật, loài côn trùng, loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó. Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời.
Trong các câu Kinh thánh nầy thì tôi chỉ xin gợi ý để quý Hội thánh có thể chú ý đến một đặc điểm nầy, ấy là Nô-ê được kể là người công bình trước mặt Đức Giê-hô-va.
Tất cả chúng ta đều đã biết rằng lời của Chúa đã xác định là cả thế gian nầy không có một người nào công bình, dẫu một người cũng không và lẽ thật ấy đã được ghi lại trong hai câu Kinh thánh sau đây:
THI THIÊN 14: 3 – Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; Chẳng có ai làm điều lành, dầu một người cũng không.
RÔ-MA 3: 10 – Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.
Vì lời của Chúa là chân thật và không sai lầm, cho nên khi Kinh thánh xác định rằng không có một người nào được kể là thiện lành hoặc là công bình, thì điều đó là chính xác, không thể sai trật được. Nhưng trong Sáng thế ký đoạn 6 câu thứ 9 thì lời của Chúa lại cho biết rằng cả thế gian thời bấy giờ còn có Nô-ê là người công bình. Tại điểm nầy thì có người cho rằng Kinh thánh tự mâu thuẫn, nhưng lại có người biện minh rằng sự công bình đó của Nô-ê là do được Chúa kể cho, còn sự không công bình trong các câu Kinh thánh vừa được trưng dẫn là sự công bình theo mắt loài người.
Nhưng sự diễn giải như vậy là không chính xác mà lại còn là vô lý nữa, vì chẳng lẽ con mắt của Đức Chúa Trời soi xét thế gian để xem thử có ai công bình theo quan niệm của loài người hay không. Bởi lẽ đó mà
vì Kinh thánh được Đức Chúa Trời soi dẫn cho nên sự công bình mà lời của Chúa đề cập đến là sự công bình theo tiêu chuẩn của Ngài, chớ không phải là theo quan điểm thế gian.
Lời của Chúa trong các câu Kinh thánh nầy cho biết rằng trong thời kỳ của Nô-ê thì cả thế gian đều bại hoại, như có chép trong câu 11 tiếp theo sau đó:
SÁNG THẾ KÝ 6: 11 – Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác.
(còn tiếp)