CON ĐƯỜNG THEO CHÚA CỦA CƠ-ĐỐC NHÂN 3
CON ĐƯỜNG THEO CHÚA CỦA CƠ-ĐỐC NHÂN 3
Kinh thánh: Giăng 14: 1-21
Câu gốc: GIĂNG 14: 1 – Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa.
Trước đây cũng trong Chủ đề nầy thì chúng ta đã học biết rằng để một người có thể bắt đầu theo Chúa thì người đó phải thực hiện hai bước đầu tiên là phải nhận biết rằng mình có tội và phải có lòng ăn năn về những tội lỗi ấy. Hôm nay thì chúng ta sẽ cùng nhau suy gẫm đến bước thứ 3 trong tiến trình theo Chúa của Cơ-đốc-nhân, đó là việc chúng ta phải tin đến Đức Chúa Trời và tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Như điều mà tôi đã có thưa trình cùng với quý Hội thánh trước đây thì chữ tin mặc dầu chỉ có một chữ mà thôi nhưng lại bao gồm rất là nhiều ý nghĩa đến nỗi tôi thầy cần phải trình bày trước về nhiều chủ đề khác nhau để giúp cho chúng ta có thể nghiên cứu về chữ tin một cách chi tiết và đầy đủ. Trong lớp học Kinh thánh tối thứ Ba vừa qua thì chúng ta đã có đề cập đến những phương diện khác nhau của chữ tin và quý Hội thánh đều đã biết rằng niềm tin đầu tiên mà một người cần phải có để có thể tiếp tục bước thứ ba nầy trên con đường theo Chúa là phải tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu.
Theo thực tế cho thấy thì tất cả các tôn giáo trong thế gian đều tin rằng có một Đấng cao cả hơn hết trong cõi vũ trụ, mà họ gọi là Đấng tối thượng, tức là Đấng cao hơn tất cả những thần thánh khác. Mặc dầu vậy thì quan niệm của họ về một Đấng cao cả hoàn toàn khác hẳn với niềm tin của chúng ta về Đức Chúa Trời. Vì vậy mà khi người ta nói rằng tôn giáo nào cũng thờ trời thì Cơ-đốc-nhân phải cẩn thận và đừng hiểu lầm rằng họ cũng có tấm lòng đối với Đức Chúa Trời như chúng ta. Chính bởi lẽ đó mà chúng ta phải suy gẫm kỹ lưỡng và chi tiết về chữ tin để có thể hiểu được rõ ràng về ý nghĩa của đức tin thật là như thế nào và cũng từ đó giúp cho chúng ta xác định được sự khác nhau giữa niềm tin của chúng ta với các tôn giáo khác trong thế gian.
Bởi vì lời của Chúa có dạy rằng trong mọi phương diện thì Cơ-đốc-nhân phải ưu tiên cho Chúa trước nhất, cho nên khi suy gẫm đến chữ tin thì chúng ta cũng phải trước hết suy nghĩ đến đức tin nơi Đức Chúa Trời, rồi sau đó mới đến đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, đức tin nơi Đức-Thánh-Linh, đức tin nơi Kinh thánh và đức tin trong mọi phương diện khác nữa trong đời sống. Bởi lẽ đó mà bước thứ Ba nầy trong tiến trình theo Chúa của Cơ-đốc-nhân sẽ được chúng ta suy nghĩ một thời gian rất dài mới có thể bao gồm được tất cả các vấn đề có liên quan đến đức tin.
Theo thực tế cho thấy thì có một số Cơ-đốc-nhân xem việc tin Chúa cũng giống như là một hình thức theo một tôn giáo và không có gì đáng để nghiên cứu hoặc tìm hiểu cả. Bởi vì các tôn giáo khác cũng có thờ Thượng đế, là Đấng cao cả hơn hết trong thế giới tâm linh nên nhiều người cho rằng việc tin Chúa cũng đơn giản như việc trước đây gọi là ông Trời thì từ nay gọi là Đức Chúa Trời. Đối với một số người giống như vậy thì việc tin Chúa chỉ là sự chuyển đạo từ tôn giáo nầy sang tôn giáo khác và từ ngữ vì thế mà được thay đổi, từ đó hình thức thờ phượng cũng thay đổi theo, thành ra đối với họ thì sự tin Chúa chẳng có gì đáng để nghiên cứu cả. Chính vì sự suy nghĩ như vậy mà trong vòng Cơ-đốc-nhân mới có những trường hợp vẫn còn xem ngày tính tháng để đoán định tình trạng may rủi, mới có trường hợp kỵ tuổi, kỵ ngày, kỵ số 13 và những điều mê tín dị đoan khác giống như của những người theo các tôn giáo của trần gian. Vì quan điểm về sự tin Chúa là như vậy cho nên vẫn còn nhiều Cơ-đốc-nhân tiếp tục làm giỗ cho người đã chết hoặc cũng còn thắp nhang lạy bàn thờ của người đã chết trong những lần đi dự đám giỗ hoặc dự tiệc cưới của những người chưa tin. Thậm chí còn có một số người lý luận rằng Cơ-đốc-nhân nên làm những việc như vậy để được hòa đồng với mọi người hầu có thể dễ dàng tiếp xúc với họ mà chứng đạo và truyền giảng. Những trường hợp và những quan điểm sai lầm như vậy giúp cho chúng ta thấy rằng Cơ-đốc-nhân cần phải hiểu rõ về chữ tin là như thế nào để có thể theo Chúa một cách đúng đắn trên con đường đức tin và để giúp cho chính mình biết biện biệt ra khỏi thế gian một cách dứt khoảt theo như lời của Chúa đã có phán dạy trong Rô-ma 12: 2.
RÔ-MA 12: 2 – Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.
Các chữ SỰ ĐỔI MỚI CỦA TÂM THẦN MÌNH có nghĩa là người theo Chúa phải có một đời sống hoàn toàn thay đổi theo Lẽ thật của Chúa trong Kinh thánh để từ tư tưởng, lời nói, hành động, quan điểm và tánh tình của mình phải khác hẳn so với ngày chưa tin, hầu cho có thể tránh được tình trạng theo Chúa một cách hâm hẩm, nữa đạo nữa đời, tức là bề mặt thì là Cơ-đốc-nhân còn bề trong thì vẫn mê tín dị đoan như người thế gian. Vì thế mà khi đã tin Chúa rồi thì Cơ-đốc-nhân phải có tấm lòng và thái độ dứt khoát, một là để tránh tình trạng đi hai hàng nữa đạo nữa đời và hai là để có được sự đổi mới hoàn toàn của tâm thần theo như lời của Chúa trong câu gốc vừa được trưng dẫn. Muốn được như vậy thì chúng ta cần phải hiểu về chữ tin một cách đầy đủ và chi tiết.
Thông thường khi nói rằng mình tin Chúa thì chúng ta cần phải nhớ rằng niềm tin như vậy là bao gồm cả việc tin vào ba ngôi Đức Chúa Trời, vì đó là đặc điểm quan trọng của Ngài. Như vậy thì chúng ta có thể thấy rằng đây là điểm khác biệt thứ nhất và lớn nhất giữa niềm tin của chúng ta nơi Chúa so với niềm tin của các tôn giáo khác đang hiện hành khi họ nói rằng họ cũng tin có Thượng đế. Bởi vì khi người ta nói rằng họ có thờ trời thì sự thờ phượng của họ cũng là theo quan điểm riêng của con người mà thôi, vì vậy mà họ không có thờ phượng Đức Chúa Jêsus và Đức-Thánh-Linh, chẳng hạn như người Hồi giáo. Mặc dầu họ nói với Cơ-đốc-nhân rằng Thượng đế của họ cũng chính là Đức Chúa Trời của người Tin lành thì chúng ta chớ có tin bởi vì họ chỉ xem Đức Chúa Jêsus là một vị tiên tri đáng kính mà thôi nhưng lại ở vào địa vị thấp thỏi hơn là tiên tri của họ. Đối với người Phật giáo thì cũng vậy. Khi họ nói rằng họ có thờ trời thì sự thờ phượnh như vậy cũng chỉ là theo quan điểm của con người, bởi vì họ không công nhận Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời hiện thân thành người, thậm chí còn xem Ngài là kém quan trọng hơn thần tượng của họ. Việc mà các tôn giáo khác nói với Cơ-đốc-nhân chúng ta là họ cũng có thờ phượng Đức Chúa Trời, tức là ông trời trong quan điểm của họ thì đó cũng chỉ là sự hiểu sai về Đức Chúa Trời hoặc chỉ là những lời dẫn dụ của những kẻ có chủ trương là các tôn giáo nên hòa hợp với nhau và cùng giúp đỡ nhau để tồn tại. Chắc là nhiều người trong chúng ta khi lái xe trên đường thì thường hay nhìn thấy những khẩu hiệu hoà hợp tôn giáo như vậy được dán trên thân xe. Hiểu như thế về Đức Chúa Trời và nghĩ rằng niềm tin nơi Ngài có thể hòa hiệp được với các tôn giáo khác đang thờ lạy thần tượng thì đó là cả một sai lầm lớn. Cơ-đốc-nhân chúng ta đừng để mình phạm phải sai lầm đó và cũng đừng để chính mình bị dẫn dụ bởi quan điểm hoà hợp tôn giáo. Lời của Chúa trong Kinh thánh đã cho biết một cách quả quyết rằng Đức Chúa Trời không thể hòa hiệp được với các thần tượng do con người nghĩ ra, như lời Kinh thánh đã được chép trong các câu gốc sau đây:
THI THIÊN 96: 5 – Vì những thần của các dân đều là hình tượng; Còn Đức Giê-hô-va đã dựng nên các từng trời.
Ê-SAI 42: 8 – Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!
Hai câu Kinh thánh nầy cùng với những câu Kinh thánh tương tự khác cho thấy rằng niềm tin trong Đức Chúa Trời không thể nào hoà hiệp được với các niềm tin của các tôn giáo khác. Điều đó có nghĩa là khi Cơ-đốc-nhân có đức tin nơi Chúa thì phải tuyệt đối dứt khoát với mọi điều có liên quan về thần tượng hầu cho có thể được đẹp lòng Đức Chúa Trời và được phước của Chúa luôn luôn.
Vì cớ niềm tin của chúng ta hoàn toàn khác biệt với các tôn giáo trong thế gian cho nên Cơ-đốc-nhân phải nghiên cứu về chữ tin và về Đức Chúa Trời một cách cẩn thận để gây dựng cho đức tin của chính mình được mạnh mẽ và cũng để biết phân biệt, đối đáp, chứng đạo và truyền giảng cho mọi người một cách đúng đắn theo ý của Chúa. Điều đó có nghĩa là khi làm chứng về Chúa cho người chưa tin thì phải chú ý về cách nói làm sao để dâng sự vinh hiển cho Chúa chớ không phải vì muốn người ta tin Chúa mà nói một cách ba phải về Đức Chúa Trời và ve vuốt sự thờ lạy thần tượng để khỏi làm mích lòng người nghe. Bởi lẽ đó mà việc suy gẫm về chữ tin nơi Đức Chúa Trời là rất quan trọng và cần thiết.
Khi nói về ý nghĩa của sự tin Chúa thì trước hết chúng ta phải nói đến vấn đề tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu, hay chính xác hơn là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, như lời phán của Chúa đã có ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô ký 3: 14.
XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ 3: 14 – Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là ĐẤNG Tự Hữu Hằng Hữu. Rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: ĐẤNG Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.
Các chữ Tự Hữu Hằng Hữu trong câu gốc nầy có ý nghĩa thế nào thì chắc là tất cả quý Hội thánh đã biết rồi, tức là Đức Chúa Trời là Đấng tự nhiên mà có và Ngài sẽ cứ hiện hữu luôn cho đến đời đời không bao giờ dứt.
Sự tự hữu là một trong những đặc điểm quan trọng của Đức Chúa Trời mà nhiều khi Cơ-đốc-nhân theo Chúa lâu năm vẫn còn thắc mắc. Mặc dầu tất cả Cơ-đốc-nhân đều nói rằng mình tin Đức Chúa Trời là Đấng có thật, nhưng sự tự nhiên mà có của Ngài vẫn còn là điều bí ẩn và khó hiểu đối với nhiều Cơ-đốc-nhân. Theo quan điểm thông thường của con người thì mọi người mọi vật đều có nguồn gốc, có nghĩa là từ đâu mà có hoặc là đã được làm ra khi nào, cho nên khi lời của Chúa cho biết rằng Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu từ trước vô cùng thì điều đó đi ngược lại hoàn toàn với quan điểm của con người. Đó là một trong những lý do khiến cho nhiều người không chịu tin Chúa hoặc là nếu có tin thì cũng vẫn còn nghi ngờ. Đối với chúng ta thì sự tự hữu của Chúa là điều vượt quá mọi sự hiểu biết, suy tưởng và giải thích, cho nên đang khi còn sống trên đất nầy thì chúng ta chỉ tin mà thôi, nhưng trong tương lai, khi được diện kiến với Ngài trong nơi vinh hiển thì chúng ta sẽ biết được sự tự hữu của Chúa là như thế nào, như lời Kinh thánh đã có đề cập đến trong 1Cô-rinh-tô 13: 12.
1CÔ-RINH-TÔ 13: 12 – Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ. Đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau. Ngày nay tôi biết chưa hết, đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.
Chữ MẬP MỜ mà Kinh thánh dùng ở đây là muốn nói đến việc Cơ-đốc-nhân không thể hiểu biết được hết mọi điều mầu nhiệm trong cõi vô hình, chẳng hạn như là nguồn gốc căn bản của tình yêu thương, nhất là về Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng Yêu Thương. Nhưng trong tương lai, khi chúng ta được diện kiến Đức Chúa Trời mặt đối mặt trong sự vinh hiển chói lòa của Ngài thì lúc đó chúng ta sẽ biết được về mọi điều một cách rõ ràng như là Chúa biết chúng ta vậy. Điều đó có nghĩa là lúc bấy giờ chúng ta sẽ hiểu về sự tự hữu hằng hữu của Chúa một cách rõ ràng nhất. Bởi thế cho nên ngày hôm nay chữ tin nơi Đức Chúa Trời mới được Kinh thánh gọi là đức tin nơi Đấng không thấy được, chẳng hạn như đức tin của Môi-se, nghĩa là chỉ tin bằng tấm lòng chớ chưa thể nào hiểu rõ được sự thực hữu của Ngài, như lời Kinh thánh đã được chép trong Hê-bơ-rơ 11: 27.
HÊ-BƠ-RƠ 11: 27 – Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận, vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được.
Cơ-đốc-nhân chúng ta ngày nay cũng giống như Môi-se, là tin nơi Đức Chúa Trời không thấy được cũng như tin nơi sự tự hữu của Ngài. Có thể là ngày hôm nay chúng ta chưa thể hoàn toàn hiểu được sự tự hữu của Ngài là như thế nào cho đến khi được diện kiến Đức Chúa Trời mặt đối mặt, nhưng về sự thực hữu của Chúa thì chúng ta có thể hiểu được nhờ sự giải bày của Kinh thánh và nhờ nhận biết sự hành động của Ngài ngay trong chính đời sống chúng ta.
Trong các lớp học Kinh thánh và các lớp Phước âm yếu chỉ thì tôi đã có nhiều lần trình bày với quý Hội thánh một cách chi tiết hơn về việc tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho nên tôi không đề cập thêm ở tại đây vì thì giờ của chúng ta có hạn, nhưng tôi chỉ xin đưa ra một điểm để minh chứng rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu, đó chính là sự thay đổi trong đời sống chúng ta.
Theo như lời Kinh thánh cho biết thì con người không thể tự thay đổi được bản chất hay bản tánh của mình, như lời khẳng định của Chúa về dân Giu-đa và đã được ghi lại trong Giê-rê-mi 13: 23.
GIÊ-RÊ-MI 13: 23 – Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được.
Lời của Chúa trong câu gốc nầy cho thấy được nguyên tắc tổng quát về bản tánh của con người, là nếu người nào đã quen làm điều gian ác hoặc thường hay phạm tội thì không thể nào thay đổi được bản tánh của họ, cũng giống như người Ê-thi-ô-bi không thể nào đổi được màu da đen hoặc như là con beo không thể đổi được cái vằn trên da của nó. Nguyên tắc nầy về bản tánh của con người là điều mà mọi người đều có thể nhận biết được, vì người xưa Việt Nam cũng có câu Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt cũng mang ý nghĩa tương tự nhưng với mức độ đơn giản và kém quan trọng hơn. Với bản tánh như vậy thì chúng ta có thể hiểu được rằng không một người nào trong trần gian nầy có thể tự thay đổi được chính mình để được trở nên người tốt hơn và dẫu có cố gắng đến mấy thì bản tánh riêng của từng người cũng vẫn cứ tồn tại ở trong họ cho đến hết đời. Nguyên tắc nầy trong lời của Chúa có ý nói rằng khi con người đã sinh ra và lớn lên trong tội lỗi thì không thể nào tự mình có thể trở thành người thiện lành được. Hoặc nếu có chăng theo quan điểm của một số người thì đó cũng chỉ là sự thay đổi bên ngoài để làm ra vẻ thiện lành mà thôi, chớ bề trong thì vẫn như cũ, có nghĩa là sự xu hướng về tội lỗi thì vẫn còn y nguyên. Thực tế cho chúng ta thấy rằng người ta có thể thay đổi bộ dạng bên ngoài bằng sự giải phẩu thẩm mỹ, thậm chí có thể xóa cả vân tay, hoặc là thay đổi y phục, đầu tóc, cách đi đứng và ngôn ngữ, nhưng bản tánh bên trong thì không thể nào thay đổi được. Nói tóm lại là con người không có khả năng đó.
Nhưng khi Cơ-đốc-nhân chúng ta nhận biết rằng trong đời sống mình có sự thay đổi kể từ ngày tin Chúa, nghĩa là nhận biết rằng mình đã và đang dần dần từ bỏ được những thói quen xấu, cũng như từ bỏ được những lời nói, hành động và quan điểm của những ngày chưa tin, nhất là biết từ bỏ xu hướng nghiên về tội lỗi mà tập tành sống một đời thiện lành theo tiêu chuẩn của Kinh thánh thì chúng ta có thể biết được rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu và quyền năng của Ngài đang thay đổi đời sống chúng ta. Khi chúng ta làm được điều mà con người không thể tự làm được, là thay đổi bản chất của mình, thì điều đó giúp cho chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu. Kinh nghiệm như vậy đã được Phao-lô mô tả trong thư tín Cô-lô-se 1: 29.
CÔ-LÔ-SE 1: 29 – Ấy cũng là vì đó mà tôi làm việc, nhờ sức Ngài giúp đỡ mà chiến đấu, là sức hành động cách có quyền trong tôi.
Nhờ sự nhận biết sức lực của Đức Chúa Trời đang hành động trong đời sống ông và bởi đó mà có đức tin càng thêm mạnh mẽ trong Chúa nên Phao-lô đã trở thành một sứ đồ đắc lực cho Đức Chúa Jêsus trong việc đem dân ngoại trở về với Tin lành của Chúa. Ông vốn là một người phạm thượng và hung bạo, từng bắt bớ Hội thánh của Chúa hết sức gắt gao, nhưng khi được Ngài thăm viếng và thay đổi cuộc đời ông thì Phao-lô trở nên một thánh nhân trong lịch sử của Hội thánh chung. Nhờ quyền năng của Chúa hành động trong đời sống ông mà Phao-lô biết được rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu và Đức Chúa Jêsus là Cứu Chúa chân thật của cả thế gian, và cũng là Đấng đang sống chính trong tấm lòng của ông, như lời khẳng định của Phao-lô đã có chép trong Ga-la-ti 2: 20.
GA-LA-TI 2: 20 – Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ mà tôi sống. Không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi. Nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.
Bởi lẽ đó khi chúng ta dùng lời Kinh thánh và kinh nghiệm của Phao-lô để suy gẫm về chữ tin thì chúng ta có thể hiểu rằng khi Cơ-đốc-nhân thật lòng tin nơi sự thực hữu của Chúa thì chính Ngài sẽ ngự vào đời sống của chúng ta để minh chứng cho điều đó và sẽ dùng quyền năng Ngài để thay đổi từng người trở nên những gương mẫu thiện lành theo tiêu chuẩn và mực thước của Chúa trong Kinh thánh. Sự thay đổi như vậy giúp cho chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu và từ đó củng cố thêm đức tin của chúng ta nơi Chúa. Vì vậy Cơ-đốc-nhân phải thật lòng tin nơi sự thực hữu của Chúa không chút hồ nghi thì mới có thể kinh nghiệm được sự thay đổi thật trong đời sống mình. Hoặc nếu nói theo cách ngược lại thì nếu Cơ-đốc-nhân nào chưa kinh nghiệm được sự thay đổi trong đời sống mình theo tiêu chuẫn thiện lành của Chúa có ghi trong Kinh thánh thì người đó chưa thật sự tin nhận Ngài. Vì chưa có đức tin thật nên người đó chưa kinh nghiệm được quyền năng thay đổi của Đấng Thực Hữu bên trong đời sống mình. Bởi lẽ đó cho nên chúng ta cần phải có đức tin thật để được thay đổi và phải có ý muốn thay đổi bản tánh mình để nhờ đó mà sự tin Chúa của chúng ta được trở nên đức tin thật.
Theo các sự giải bày trong Kinh thánh thì bằng chứng về sự thay đổi bởi quyền năng của Đức Chúa Trời thực hữu sẽ được bày tỏ ra trong sự yêu thương theo Lẽ thật, như đã được ghi lại trong 1Giăng 4: 12 và 13 cũng như trong câu 15 và 16.
1GIĂNG 4: 12-13 – Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta yêu nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và sự yêu mến Ngài được trọn vẹn trong chúng ta. Bởi điều nầy chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, là Ngài đã ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta.
1Giăng 4: 15-16 – Ví bằng có ai xưng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời ở trong người, và người ở trong Đức Chúa Trời. Chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.
Trong cả 4 câu Kinh thánh nầy thì lời của Chúa đều khẳng định rằng người có Đức Chúa Trời ngự trong đời sống mình là người biết yêu thương, nhưng không phải là yêu thương theo cách của người thế gian, mà là yêu thương theo Lẽ thật của Chúa trong Kinh thánh. Chính nhờ vào sự Chúa ở cùng trong đời sống mình cách như vậy mà Cơ-đốc-nhân mới kinh nghiệm được sự thực hữu của Chúa. Như tôi đã có trình bày với quý Hội thánh trong Chủ đề Yêu Thương Trong Lẽ Thật thì không phải tất cả mọi người biết yêu đều là có Đức Chúa Trời ngự cùng. Ấy là bởi vì đa số con người thì yêu thương nhau theo quan điểm riêng và vì lợi ích riêng của cá nhân họ. Khi Cơ-đốc-nhân nói về tình yêu thương thì những người chưa tin cũng nói về tình yêu thương nữa, nhưng dùng những từ ngữ khác hơn một chút, chẳng hạn như lòng bác ái hoặc lòng hảo tâm. Nhưng đâu phải vì vậy mà họ cũng có Đức Chúa Trời ngự cùng. Thế thì chúng ta thấy rằng cả người tin Chúa lẫn người chưa tin đều nói về tình yêu thương, nhưng chỉ có những người yêu thương theo Lẽ thật của Chúa trong Kinh thánh thì mới là người thật sự có Đức Chúa Trời ngự cùng.
Đến đây thì tôi xin được lập lại Lẽ thật nầy một lần nữa để quý Hội thánh có thể ghi nhớ, ấy là chỉ những người nào thật lòng tin nhận Chúa thì mới kinh nghiệm được quyền năng thay đổi của Ngài. Nhờ kinh nghiệm được quyền năng ấy mà người đó có thể biết chắc rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu và cũng nhờ quyền năng Ngài mà người đó mới biết yêu thương theo Lẽ thật là như thế nào.
Nói một cách khác thì việc biết yêu thương theo Lẽ thật là bằng chứng của một đức tin thật, vì được Đức Chúa Trời thực hữu ngự cùng và được kinh nghiệm quyền năng thay đổi của Ngài để từ đó có thể thay đổi bản chất của mình trở nên tốt hơn. Cơ-đốc-nhân cần phải ghi nhớ Lẽ thật nầy để làm căn bản cho đức tin và cũng để tra xét mình mỗi ngày suốt trên con đường theo Chúa. Ngoài ra thì còn có một yếu tố khác giúp cho chúng ta nhận biết sự thực hữu của Chúa, đó là việc vui lòng làm theo điều răn của Ngài, như đã có ghi lại trong 1Giăng 3: 24.
1GIĂNG 3: 24 – Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy. Chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.
Trong câu Kinh thánh nầy thì chúng ta thấy được tánh chất song song của đức tin thật về Đức Chúa Trời là Đấng thực hữu. Một mặt thì khi một người có đức tin thật nơi Chúa thì Ngài sẽ đến ngự trong đời sống của người ấy và giúp cho người ấy kinh nghiệm được rằng Ngài là Đấng thực hữu. Mặt khác thì bởi kinh nghiệm Đức Chúa Trời là Đấng thực hữu cho nên người ấy sẽ hết sức vui lòng làm theo luật pháp của Chúa nhờ sự khích lệ và giúp sức của Đức-Thánh-Linh, tức là quyền năng thay đổi của Đức Chúa Trời. Như vậy thì chúng ta cũng có thể hiểu được rằng nếu Cơ-đốc-nhân nào không hết lòng vâng giữ các điều răn của Chúa có ghi trong Kinh thánh thì người đó chưa thật sự kinh nghiệm được quyền năng thay đổi của Đức-Thánh-Linh và chưa thật sự có đức tin thật rằng Đức Chúa Trời là Đấng thực hữu. Chúng ta suy nghĩ đến cả 2 trường hợp như vậy để khích lệ chính mình và cũng để thức tỉnh bất cứ Cơ-đốc-nhân nào khi kiểm điểm lại đời sống mình mà thấy rằng từ ngày tin Chúa cho đến hôm nay chưa hề một lần nào vui lòng làm theo luật pháp của Chúa.
Nói tóm lại là theo hai đặc điểm nầy, là đặc điểm có liên quan đến tình yêu thương và các điều răn, thì nếu Cơ-đốc-nhân nào biết yêu thương trong Lẽ thật và biết vui lòng làm theo luật pháp của Chúa thì người đó có đức tin thật và có Đức Chúa Trời ngự cùng. Còn người nào chưa biết yêu thưong trong Lẽ thật và chưa chịu hết lòng vâng giữ điều răn của Chúa thì người đó chưa có đức tin thật và cũng chưa kinh nghiệm được sự thực hữu của Đức Chúa Trời.
Bởi lẽ đó mà trong bước thứ Ba trên con đường theo Chúa của Cơ-đốc-nhân thì chúng ta có thể dùng Lẽ thật vừa được đề cập đến để nhắc nhở và thử nghiệm chính mình rằng chúng ta đang có đức tin thật trong Chúa hay chưa. Chúng ta có thể thấy rằng nói về đức tin và tình yêu thương thì dễ nhưng sống bằng đức tin và biết yêu thương trong Lẽ thật là điều khó hơn. Vì vậy mà người ta hay nói về đức tin và tình yêu thương nhưng lại không có một đời sống thay đổi và cũng không phân biệt được yêu thương trong Lẽ thật là như thế nào hầu cho có thể làm theo một cách đúng đắn.
Bởi thế cho nên đức tin là bước rất quan trọng trên con đường theo Chúa và Cơ-đốc-nhân chúng ta phải chắc chắn rằng đức tin của mình là đức tin thật để có thể nhận được sự sống đời đời trong tương lai. Nói đến đây thì có lẽ một vài anh chị em sẽ thắc mắc để hỏi tại sao là khi tôi nói như vậy thì lời của Chúa trong Kinh thánh lại cho biết là tình yêu thương còn quan trọng hơn cả đức tin nữa, như đã được ghi lại trong 1Cô-rinh-tô đoạm 13: 13 mà tất cả chúng ta đều rất quen thuộc. Tôi xin được đọc lại câu Kinh thánh ấy và một câu khác trong Gia-cơ 2: 17.
1CÔ-RINH-TÔ 13: 13 – Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương.
GIA-CƠ 2: 17 – Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết.
Theo 2 câu Kinh thánh nầy và liên hệ đến Lẽ thật mà chúng ta vừa suy gẫm qua thì quý Hội thánh đã có thể hiểu rằng chỉ bởi đức tin thật thì mới có tình yêu thương thật mà thôi. Bởi lẽ đó mà lời của Chúa mới cho biết rằng tình yêu thương là quan trọng hơn hết, vì đó mà bằng chứng được bày tỏ ra bằng hành động của một đức tin thật. Không có đức tin thật thì không có tình yêu thương thật. Và nếu không tin Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu thì cùng không có đức tin thật cũng như không có tình yêu thương thật. Cho nên tình yêu thương là quan trọng hơn cả vì chứng tỏ rằng người đó có đức tin thật và thật tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thực Hữu.
Vì vậy cầu xin Đức Chúa Trời tiếp tục giúp đỡ cho Cơ-đốc-nhân có đức tin thật và mạnh mẽ trong Ngài để con dân Chúa được diện kiến Đức Giê-hô-va trong tương lai. Cầu xin Đức Chúa Trời hành động cách có quyền hơn nữa trong đời sống của chúng ta để chính mình có thể kinh nghiệm nhiều thêm sự hiện diện của Ngài. Và cầu xin Đức-Thánh-Linh tiếp tục hướng dẫn, dạy dỗ, soi sáng cho chúng ta biết một cách chi tiết hơn nữa về đức tin thật để nhờ đó mà được xứng đáng trong ngày Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm. Amen.